KhangTrang.comKhang Trang
Móng, khung và mái

Mái ngói, mái tôn hay mái bằng cho nhà ở quê: so sánh theo nắng, mưa và gió bão

So sánh ba kiểu mái phổ biến ở nông thôn theo độ mát, độ ồn, chống dột, chịu bão và sửa chữa; mái nào hợp miền Bắc, miền Trung, Nam Bộ và vùng đồi.

Elevated view over a village lane with three neighbouring houses under terracotta tile, corrugated metal and flat concrete roofs, late afternoon light

Không có loại mái tốt nhất cho mọi nhà: mái ngói mát và yên tĩnh nhưng nặng, cần hệ kèo chắc và dễ bị gió bóc nếu không buộc; mái tôn nhẹ, làm nhanh, thoát nước tốt nhưng nóng, ồn và kỵ gió muối; mái bằng bê tông chắc, dùng được làm sân phơi nhưng tích nhiệt và dễ thấm nếu chống thấm kém. Chọn mái là cân giữa khí hậu vùng mình, cách gia đình dùng nhà và khả năng bảo trì về sau.

Phần dưới so sánh ba kiểu theo từng tiêu chí, nói rõ điểm hay hỏng của từng loại, gợi ý theo vùng và những chi tiết chung mà mái nào cũng cần: độ dốc, neo giữ, diềm mái, máng xối. Mái là kết cấu nằm trên cao, nên mọi việc lắp đặt và sửa đều phải có biện pháp an toàn cho người làm.

So sánh nhanh ba kiểu mái

Bảng dưới đánh giá theo cảm nhận khi ở và theo những gì hay gặp khi sửa chữa ở nông thôn. Mức độ chỉ mang tính so sánh tương đối giữa ba loại, không phải số đo.

Tiêu chíMái ngóiMái tônMái bằng bê tông
Mát vào mùa nóngMát, ngói thở và có khe thoángNóng nếu không cách nhiệtBan ngày đỡ, chiều tối toả nhiệt vào nhà
Tiếng ồn khi mưaÊmỒn, nhất là mưa đá, mưa toÊm
Trọng lượngNặng, cần kèo chắcNhẹRất nặng, là kết cấu chịu lực
Chống dộtTốt khi đủ dốc, ngói không vỡTốt nếu vít và chồng mí đúngPhụ thuộc hoàn toàn vào chống thấm
Chịu gió bãoDễ bóc ngói nếu không buộc, đèDễ tốc nếu neo kém, mép hởTốt nhất
Vùng ven biểnBền với gió muốiDễ gỉ, cần loại chống ăn mònBền nếu bê tông và lớp bảo vệ tốt
Sửa chữaThay từng viên, cần thợ quenThay tấm dễ, nhanhSửa thấm khó, tốn công
Dùng mặt máiKhôngKhôngLàm sân phơi, đặt bồn nước, sau này lên tầng

Nhiều nhà ở quê chọn cách phối: mái bằng bê tông làm sàn chịu lực, bên trên lợp thêm mái tôn hoặc mái ngói có khoảng trống thông gió. Cách này mát và chống thấm tốt, đổi lại tốn thêm một lớp mái và cần tính tải cho kết cấu.

Mái ngói: mát, bền nhưng phải có kèo chắc và buộc ngói

Mái ngói là hình ảnh quen của nhà ba gian, nhà cấp bốn mái thái ở khắp các vùng quê. Ngói đất nung hút một phần hơi ẩm và có khe hở nhỏ giữa các viên, không khí lưu thông dưới mái nên trong nhà mát hơn rõ rệt so với mái tôn trần.

Hệ đỡ mái ngói gồm kèo, xà gồ và li tô (mè). Ngày nay nhiều nhà dùng hệ khung thép nhẹ thay cho gỗ để tránh mối mọt. Dù gỗ hay thép, khoảng cách li tô phải khớp với loại ngói, xà gồ đủ cứng để mái không võng, và cả hệ phải được neo vào giằng tường hoặc đầu cột.

Độ dốc là điều quyết định mái ngói có dột hay không. Mái quá thoải thì nước mưa to chảy chậm, gió đẩy nước ngược vào khe ngói. Mỗi loại ngói có độ dốc tối thiểu do nơi sản xuất khuyến nghị; hãy hỏi thợ mái nhà mình dốc bao nhiêu và có đạt mức ấy không.

Điểm yếu của mái ngói trong bão là ngói bị gió hút bay từng viên, nhất là hàng ngói ở mép mái, đỉnh nóc và đầu hồi. Ở vùng bão, ngói hàng ngoài cùng nên được buộc hoặc bắt vít vào li tô, ngói nóc và ngói rìa gắn vữa hoặc vít chắc. Vài viên ngói bay cũng đủ mở đường cho gió luồn vào bóc cả mảng.

Mái tôn: nhanh, nhẹ, nhưng phải xử lý nóng, ồn và gỉ

Mái tôn phổ biến vì nhẹ, làm nhanh, khung đỡ đơn giản và thoát nước tốt ngay cả khi độ dốc thấp. Với nhà cấp bốn, nhà phụ, bếp, chái hiên, đây là lựa chọn hợp lý về thời gian và công sức.

Ba điểm yếu cần xử lý ngay từ đầu. Thứ nhất là nóng: tôn trần hấp thụ nắng rồi toả nhiệt xuống, nên cần lớp cách nhiệt, trần, hoặc khoảng không thông gió dưới mái. Thứ hai là ồn khi mưa to: lớp cách nhiệt dưới tôn cũng giảm được tiếng mưa đáng kể. Thứ ba là gỉ, nhất là ở vùng ven biển hay gần chuồng trại có hơi amoniac, cần chọn loại tôn có lớp mạ chống ăn mòn phù hợp và vít đúng loại.

Chất lượng mái tôn nằm ở những chi tiết nhỏ: vít bắn ở sóng cao chứ không ở sóng thấp nơi nước chảy, mỗi vít có đệm cao su, tấm chồng mí đủ rộng theo cả chiều ngang và chiều dọc, đầu tôn ở mép mái được gập hoặc che để nước không chảy ngược vào.

Trong bão, mái tôn tốc thường bắt đầu từ mép mái hiên và đầu hồi. Ở các vị trí này cần mật độ vít dày hơn, có nẹp chặn và xà gồ được neo chắc vào khung. Trước mùa bão, nhiều gia đình ở miền Trung còn chằng thêm dây, bao cát theo hướng dẫn của địa phương.

Mái bằng bê tông: chắc chắn nhưng phải giải bài toán nóng và thấm

Mái bằng là một tấm sàn bê tông cốt thép, phải có thiết kế kết cấu và thi công như một sàn chịu lực. Ưu điểm lớn nhất là chịu bão tốt, dùng làm sân phơi, chỗ đặt bồn nước, và sẵn sàng cho việc lên tầng sau này nếu móng cột đã tính.

Nhược điểm thứ nhất là thấm. Mặt mái phẳng nên nước chỉ thoát được nhờ một độ dốc nhỏ tạo bằng lớp vữa, nếu tạo dốc kém nước đọng thành vũng và tìm đường xuống qua các vết nứt nhỏ, cổ ống, chân tường lan can. Chống thấm mái bằng phải làm ngay từ đầu, có thử ngâm nước trước khi hoàn thiện.

Nhược điểm thứ hai là nóng về chiều. Tấm bê tông hấp nhiệt cả ngày rồi toả xuống phòng bên dưới vào buổi chiều tối, đúng lúc gia đình đi ngủ. Các cách giảm nóng gồm lát lớp gạch chống nóng có khoảng rỗng, lợp thêm mái tôn hoặc giàn cây phía trên, hoặc đặt phòng ngủ ở chỗ không nằm ngay dưới mái.

Mái bằng cũng cần chỗ thoát nước dự phòng. Nếu lỗ thu nước chính bị lá cây hay túi nilon bịt kín trong một trận mưa lớn, nước dâng lên trên mặt mái và tràn vào chỗ yếu nhất. Một lỗ tràn ở thành tường mái, đặt cao hơn mặt mái một chút, giúp nước có đường thoát khi lỗ chính tắc.

Một điểm hay bị quên là lan can, tường mái trên mái bằng. Tường mái cao mà không có giằng, bổ trụ thì dễ đổ khi bão, còn chân tường mái là chỗ thấm phổ biến nhất. Hỏi thợ phần chống thấm được kéo lên chân tường mái bao cao.

Mái gian phụ, chái bếp và hiên: đừng làm tạm bợ

Ở quê, ngôi nhà chính thường được làm kỹ, còn gian bếp, chái hiên, nhà kho, chuồng xe nối vào thì làm sau và làm nhanh. Chính những mái phụ ấy lại là chỗ dột và tốc mái nhiều nhất, vì chúng thấp, thoải, nối vào nhà chính bằng một đường giao vá víu.

Chỗ mái phụ tiếp giáp tường nhà chính cần một tấm che mép (diềm, máng) chạy dọc chân tường, được chèn kín và gập lên tường đủ cao để nước chảy ngoài không luồn ngược vào. Nếu chỉ trét vữa hay keo vào khe, sau vài mùa nắng mưa lớp trét nứt và nước chảy theo tường vào nhà.

Độ dốc mái phụ thường bị ép thấp để không vướng cửa sổ tầng trên hoặc mái chính. Mái quá thoải với tôn thì nước mưa to dồn chậm, tràn qua mí; với ngói thì gần như chắc chắn dột. Khi thiết kế nhà nên tính trước cao độ mái phụ để nó có đủ dốc, thay vì chắp vào sau.

Mái hiên rộng trước nhà là chỗ sinh hoạt quen thuộc, nhưng cũng là cánh buồm hứng gió bão. Hiên dài nên có cột đỡ ở mép ngoài và neo riêng xuống móng, không chỉ treo vào tường. Ở vùng bão, có gia đình làm hiên kiểu tháo được tấm lợp trước mùa bão để giảm diện tích gió bóc.

Gợi ý chọn mái theo vùng khí hậu

Mỗi vùng có kiểu thời tiết riêng, và nhà truyền thống ở mỗi vùng đã trả lời câu hỏi này bằng kinh nghiệm hàng trăm năm. Gợi ý dưới đây chỉ là điểm bắt đầu để bàn với thợ, kỹ sư.

  • Miền Bắc: mùa hè nóng, mùa đông rét, có nồm ẩm. Mái ngói dốc hoặc mái bằng có lợp thêm lớp mái chống nóng phù hợp; chú ý thông gió áp mái để giảm đọng hơi nước mùa nồm.
  • Miền Trung: nắng gắt, gió Lào ở một số tỉnh, bão mạnh. Ưu tiên mái chịu bão: mái bằng, hoặc mái ngói, mái tôn có neo kỹ, mép mái ngắn, mái hiên tách rời hoặc neo riêng.
  • Nam Bộ: nóng ẩm quanh năm, mưa rào lớn theo mùa. Mái dốc thoát nước nhanh, có cách nhiệt, mái hiên rộng che mưa tạt; mái tôn cần cách nhiệt tốt để giảm nóng.
  • Tây Nguyên, vùng đồi: mưa dài, gió mạnh theo mùa, đêm lạnh. Mái dốc lớn, neo chắc, hiên sâu che mưa xiên; nhà ở chỗ đón gió cần chú ý mép mái và đầu hồi.
  • Ven biển: gió muối ăn mòn kim loại. Hạn chế kết cấu thép lộ thiên, nếu dùng tôn và khung thép thì chọn loại chống ăn mòn và kiểm tra vít, mép tôn thường xuyên.

Hướng nhà và độ vươn của mái hiên nên tính theo nắng và hướng mưa của từng vùng: phía tây cần che nắng chiều, phía đón mưa xiên cần hiên sâu hơn.

Những chi tiết mái nào cũng cần

Độ dốc đủ cho loại vật liệu. Ngói, tôn, mái bằng đều có mức dốc tối thiểu để nước thoát kịp trong mưa lớn. Hỏi thợ và so với khuyến nghị của nơi sản xuất vật liệu.

Neo mái vào khung nhà. Kèo, xà gồ phải bắt vào giằng tường hoặc đầu cột. Mái chỉ gác lên tường là mái chờ bão lật.

Diềm mái và mái hiên. Mái hiên vươn ra che tường khỏi mưa nắng nhưng cũng là chỗ gió bóc đầu tiên. Hiên dài cần cột đỡ hoặc neo riêng.

Máng xối và ống thoát. Máng đủ lớn, có độ dốc, ống đứng đủ số lượng. Nước từ ống phải dẫn ra rãnh, không xả sát chân tường.

Thông gió dưới mái. Khoảng không giữa mái và trần cần có lối cho khí nóng thoát ra ở đầu hồi hoặc nóc, nếu không trần sẽ thành lò sưởi.

Lối lên mái an toàn. Một vị trí để lên kiểm tra, dọn lá, thông máng, có chỗ móc dây an toàn. Không nên lên mái khi trời mưa, gió hoặc mái ướt trơn.

Câu hỏi thường gặp

Mái thái là gì, có khác mái ngói thường không?

Mái thái là cách gọi phổ biến cho kiểu mái dốc nhiều mặt, độ dốc lớn, thường lợp ngói, trông gọn và hiện đại. Về nguyên lý vẫn là mái ngói trên hệ kèo hoặc trên sàn bê tông dốc. Điều cần hỏi vẫn là độ dốc, cách neo ngói và cách xử lý các đường giao giữa các mặt mái.

Lợp ngói lên mái bê tông dốc có cần chống thấm không?

Nên có. Ngói che phần lớn nước mưa nhưng ở các đường giao mái, khe nóc và chân tường vẫn có nước lọt xuống. Lớp chống thấm trên mặt bê tông dốc là lớp bảo vệ thứ hai, giúp mái không thấm dù vài viên ngói xô lệch.

Mái tôn có lớp cách nhiệt sẵn có đáng chọn không?

Loại tôn có lớp cách nhiệt và lớp lót bên dưới giúp giảm nóng và giảm tiếng mưa đáng kể so với tôn trần, rất hợp nhà ở. Khi chọn cần hỏi lớp cách nhiệt có chịu ẩm không và mép tấm được xử lý thế nào để nước không thấm vào lớp xốp.

Nhà ở vùng bão thường xuyên nên chọn mái gì?

Mái bằng bê tông chịu bão tốt nhất nếu có thiết kế. Nếu chọn mái ngói hay mái tôn thì cần mái dốc vừa phải, mép mái ngắn, neo chắc vào khung, đặc biệt ở mép hiên và đầu hồi. Hỏi kinh nghiệm của các nhà giữ được mái qua những trận bão lớn trong vùng.

Có nên tự lên mái để thay ngói vỡ, bắn lại vít?

Việc trên mái có nguy cơ ngã cao. Nếu tự làm, chỉ lên khi mái khô, trời lặng gió, có người ở dưới, đi trên vị trí có kèo xà gồ đỡ, đeo dây an toàn móc vào điểm chắc. Mái cao, dốc lớn hoặc mái tôn mỏng thì nên thuê thợ có kinh nghiệm.

Mái bằng có nên làm sân thượng trồng cây không?

Được nếu kết cấu sàn đã tính tải của đất, chậu, nước và người, và chống thấm làm kỹ, có lối thoát nước tốt. Đất ẩm thường xuyên làm mái dễ thấm hơn, nên trồng trong chậu có kê cao hoặc bồn có lớp chống thấm riêng, và kiểm tra lỗ thoát nước định kỳ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.