Một giếng khoan dùng cho sinh hoạt gia đình cần ba điều: đặt xa bể tự hoại, chuồng trại và chỗ đổ rác; miệng giếng được trám kín và có sân xi măng để nước bẩn trên mặt không chảy ngược xuống; và nước được xét nghiệm trước khi dùng để biết cần lọc gì. Nước giếng trong và không mùi chưa chắc đã sạch. Một số chất như asen hay vi khuẩn không nhìn, không ngửi thấy được.
Ở những nơi có nước máy, nhiều gia đình vẫn giữ giếng để tưới vườn, rửa chuồng, hoặc dự phòng khi mất nước. Ở vùng đồi, vùng rẫy xa đường ống, giếng khoan là nguồn nước chính. Bài này nói ở góc chủ nhà: chọn chỗ, bảo vệ giếng, đọc nước, lọc ở mức gia đình làm được, và lúc nào cần người có chuyên môn.
Chọn chỗ khoan: tránh nguồn bẩn trước, tìm nước sau
Thợ khoan thường quan tâm chỗ nào có nước, còn chủ nhà cần quan tâm thêm chỗ nào nước không bị bẩn. Giếng nên đặt ở chỗ cao trong khuôn viên, xa bể tự hoại, nhà tiêu, chuồng heo, chuồng bò, hố ủ phân, ao tù, chỗ đổ rác và kho phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Hướng dẫn về vệ sinh nước sinh hoạt thường nêu khoảng cách tối thiểu khoảng mười mét từ giếng tới nhà tiêu, chuồng trại; đất cát và vùng nước ngầm nông thì nên xa hơn.
Cũng nên nhìn ra ngoài ranh đất. Bể phốt, chuồng trại của nhà hàng xóm, nghĩa trang, bãi rác thôn, mương nước thải đều tính. Khoan giếng ngay sát vườn cà phê, vườn rau phun thuốc nhiều cũng là điều nên cân nhắc. Hỏi những nhà xung quanh giếng họ sâu bao nhiêu, nước có màu, mùi gì, mùa khô có cạn không là nguồn thông tin rẻ và đáng tin nhất.
Giếng cần chỗ cho người thợ sau này kéo máy bơm lên sửa, nên không đặt sát chân tường hay dưới mái hiên thấp. Đường điện cho máy bơm đi riêng, có cầu dao chống giật, dây không vắt qua chỗ nước đọng. Ở một số vùng bị hạn chế khai thác nước dưới đất hoặc có nguy cơ sụt lún, hộ gia đình có thể phải đăng ký hay được khuyến cáo dùng nước máy; nên hỏi UBND cấp xã trước khi khoan.
Bảo vệ giếng: phần trên mặt đất quan trọng như phần dưới
Ống vách và trám miệng giếng. Phần trên cùng của giếng có ống vách và lớp trám kín quanh ống để nước mặt không theo khe hở chảy thẳng xuống tầng nước. Đây là chỗ thợ làm ẩu hay bỏ qua, và là đường vào chính của vi khuẩn sau mỗi trận mưa.
Sân giếng có dốc ra ngoài. Một sân xi măng quanh miệng giếng, dốc ra rãnh thoát, để nước rửa, nước mưa không đọng sát ống. Không giặt giũ, tắm rửa, làm gà vịt ngay trên sân giếng.
Nắp và chụp kín. Đầu ống giếng phải có nắp, chụp kín; không để hở cho côn trùng, chuột, lá cây rơi vào. Giếng đào cũ còn dùng thì làm nắp đậy và thành giếng cao để trẻ nhỏ không ngã.
Không bơm thuốc, đổ hoá chất gần giếng. Không pha thuốc bảo vệ thực vật, không rửa bình phun, không đổ dầu nhớt cạn gần giếng. Một lần đổ có thể làm hỏng giếng nhiều năm.
Giếng bỏ không dùng phải lấp. Giếng khoan hỏng hay giếng đào bỏ hoang là đường dẫn chất bẩn xuống tầng nước chung của cả xóm, và giếng đào hở là nguy cơ rơi xuống với trẻ nhỏ. Nên nhờ thợ có nghề lấp đúng cách.
Đọc nước bằng mắt và mũi: những dấu hiệu thường gặp
Nước bơm lên trong rồi vàng dần, để lâu có lớp váng, có mùi tanh, làm ố vàng chậu rửa và quần áo trắng là dấu hiệu nhiễm sắt, rất phổ biến ở giếng khoan nhiều vùng. Sắt gặp không khí bị oxy hoá, kết tủa thành cặn màu nâu vàng. Nước nhiễm sắt chủ yếu gây phiền: ố đồ, tắc vòi, mùi khó chịu, nhưng thường là dấu hiệu nước ngầm vùng đó cần được xét nghiệm kỹ hơn.
Nước có vị chua, làm đóng cặn trắng hoặc ăn mòn đồ kim loại có thể là nước phèn, gặp nhiều ở vùng đất phèn đồng bằng sông Cửu Long. Nước mặn, lợ gặp ở vùng ven biển và vùng xâm nhập mặn, nhất là cuối mùa khô. Nước đục sau mưa là dấu hiệu nước mặt đang lọt xuống giếng, cần kiểm lại phần trám miệng giếng. Mùi trứng thối có thể do khí hydro sunfua trong tầng nước.
Điều nguy hiểm là có những chất không đổi màu, mùi, vị. Asen trong nước ngầm đã được phát hiện ở một số vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long từ đầu những năm 2000, theo các khảo sát của cơ quan y tế và các tổ chức quốc tế. Vi khuẩn từ phân người và gia súc, nitrat từ phân bón cũng không nhìn thấy được. Vì thế mắt và mũi chỉ là bước đầu, không thay được xét nghiệm.
Xét nghiệm nước giếng: làm khi nào, làm thế nào
Xét nghiệm giúp gia đình biết mình cần lọc gì, khỏi mua thiết bị thừa hoặc thiếu. Các bước cơ bản:
- Hỏi trạm y tế cấp xã hoặc trung tâm y tế, trung tâm kiểm soát bệnh tật của tỉnh về nơi nhận xét nghiệm nước sinh hoạt; một số cơ sở xét nghiệm có chức năng cũng nhận mẫu.
- Hỏi rõ cách lấy mẫu: loại chai, cách rửa chai, xả nước bao lâu trước khi lấy, mang mẫu tới trong bao lâu. Mẫu xét vi sinh thường có yêu cầu riêng.
- Nói rõ mục đích là nước ăn uống sinh hoạt và vùng mình đang sống, để nơi xét nghiệm gợi ý các chỉ tiêu nên đo, như sắt, mangan, độ cứng, vi sinh, và asen nếu vùng có nguy cơ.
- Giữ lại phiếu kết quả trong hồ sơ nhà; lần sau xét lại có cái để so.
- Xét lại khi nước đổi màu, mùi, sau lũ lụt, sau khi khoan sâu thêm hoặc sửa giếng.
Người đi làm xa có thể nhờ người nhà lấy mẫu theo hướng dẫn của nơi xét nghiệm và gửi ảnh phiếu kết quả về. Đọc phiếu, chỉ cần nhìn cột kết quả so với cột giới hạn cho phép; chỉ tiêu nào vượt thì hỏi lại chính nơi xét nghiệm nên xử lý theo hướng nào.
Giếng mới khoan nên xét nghiệm trước khi dùng để uống và nấu ăn. Trong lúc chờ kết quả, nước giếng có thể dùng tắm giặt, tưới cây, còn nước uống thì dùng nước đã đun sôi hoặc nguồn khác đáng tin.
Các cách lọc ở mức gia đình và giới hạn của từng cách
Không có một bộ lọc xử lý được mọi thứ. Bảng dưới tóm tắt các cách phổ biến ở nông thôn và điều chúng không làm được:
| Cách xử lý | Xử lý tốt | Không xử lý được hoặc kém |
|---|---|---|
| Làm thoáng (giàn mưa, phun tia) rồi lắng | Sắt, một phần mùi | Vi khuẩn, asen, mặn |
| Bể lọc cát, sỏi, có thể thêm than | Cặn, sắt đã kết tủa, đục | Vi khuẩn chưa chắc hết, mặn, nhiều chất hoà tan |
| Đun sôi | Vi khuẩn, vi rút | Sắt, asen, nitrat, mặn (đun lâu còn cô đặc thêm) |
| Máy lọc gia đình nhiều lõi | Tuỳ loại lõi; một số loại giảm được nhiều chất hoà tan | Phụ thuộc thay lõi đúng hạn; nước đầu vào quá bẩn làm lõi nhanh hỏng |
Cách hợp lý ở nhiều nhà là xử lý hai tầng: tầng thô cho cả nhà dùng tắm giặt (làm thoáng, bể lọc cát), tầng tinh cho nước uống và nấu ăn. Nếu nước có asen, việc chọn cách xử lý nên dựa vào kết quả xét nghiệm và tư vấn của cơ quan y tế; lọc sắt bằng cát không bảo đảm loại bỏ asen.
Bể lọc cát cần được rửa, thay lớp cát trên định kỳ; bể lọc bỏ mặc vài năm trở thành nơi vi khuẩn sinh sôi và nước ra còn bẩn hơn nước vào.
Bồn chứa, máy bơm và mùa khô
Nước giếng thường được bơm lên bồn chứa trên cao rồi chảy xuống các vòi. Bồn phải có nắp kín, đặt trên giá hoặc sàn đủ chắc, và được súc rửa định kỳ vì cặn sắt, bùn mịn lắng đáy. Máy bơm nên có phao điện hoặc rơ le áp để tự ngắt khi đầy, tránh bơm khô làm cháy máy. Phần điện của máy bơm đặt ở chỗ khô, có mái che, và đi qua cầu dao chống giật, vì sân giếng là nơi ẩm ướt nhất nhà.
Ở Tây Nguyên, Lâm Đồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ, cuối mùa khô mực nước ngầm hạ, nhiều giếng yếu đi hoặc cạn. Gia đình nên tách nước sinh hoạt khỏi nước tưới khi có thể, để giếng ăn không bị bơm cạn vì tưới vườn. Trữ thêm nước mưa vào bể có nắp cho việc rửa, tưới là cách nhiều nhà vùng đồi đã làm từ lâu.
Thấy giếng bắt đầu ra nước đục, có cát, hay bơm lâu mới lên nước, nên mời thợ kiểm chứ không cố bơm. Bơm cố khi giếng yếu có thể làm hỏng giếng và máy. Ghi lại mỗi năm giếng yếu vào tháng nào cũng giúp gia đình chủ động trữ nước trước mùa khô năm sau.
Sau lũ lụt: xử lý giếng thế nào trước khi dùng lại
Nước lũ mang theo bùn, phân, xác động vật, hoá chất tràn vào giếng không được bảo vệ kín. Sau lũ, không dùng nước giếng để uống, nấu ăn cho tới khi giếng được làm sạch. Cách làm thường được ngành y tế hướng dẫn là bơm xả bỏ nước bẩn, làm sạch thành và sân giếng, khử trùng theo hướng dẫn của cán bộ y tế địa phương, rồi bơm xả tiếp. Chính quyền và trạm y tế nhiều nơi phát hoá chất khử trùng và hướng dẫn liều dùng sau lũ; nên làm theo đúng hướng dẫn đó chứ không tự đổ hoá chất ước lượng.
Trước khi xử lý giếng, kiểm lại máy bơm và phần điện của nó. Máy bơm, tủ điện, ổ cắm ở sân giếng đã ngập nước không được bật lại ngay; phải để thợ điện kiểm, sấy khô hoặc thay, vì thiết bị ngấm nước bùn có thể rò điện mà nhìn ngoài không thấy. Giếng đào cũ bị bùn lũ lấp một phần thì cần nạo vét; việc xuống lòng giếng sâu phải do người có nghề làm, có dây an toàn, có người trên miệng giếng, vì đáy giếng có thể thiếu không khí.
Khi làm việc với hoá chất khử trùng, đeo găng tay, kính, làm ở nơi thoáng, giữ trẻ nhỏ tránh xa và không trộn các loại hoá chất tẩy rửa với nhau. Sau khi xử lý, nếu có điều kiện, nên xét nghiệm lại trước khi dùng cho ăn uống.
Câu hỏi thường gặp
Giếng khoan sâu thì nước có sạch hơn giếng nông không?
Thường giếng sâu ít bị nước mặt làm bẩn hơn, nhưng không phải luôn sạch hơn. Tầng nước sâu có thể nhiều sắt, mangan, mặn hoặc asen tuỳ vùng. Giếng sâu mà miệng giếng trám ẩu thì nước mặt vẫn lọt xuống. Chỉ xét nghiệm mới trả lời được.
Nước giếng đun sôi là uống được chưa?
Đun sôi diệt vi khuẩn, vi rút, nhưng không loại được sắt, asen, nitrat, kim loại nặng hay muối. Nếu xét nghiệm cho thấy nước đạt về hoá học và chỉ lo vi sinh, đun sôi là đủ. Nếu nước có asen hay mặn, đun sôi không giúp gì, có khi còn cô đặc thêm.
Nước nhiễm sắt có hại cho sức khoẻ không?
Ở mức thường gặp, sắt chủ yếu gây mùi tanh, màu vàng, ố đồ và làm khó chịu khi dùng. Nhưng nước nhiều sắt thường đi kèm các chất khác trong tầng nước, nên vẫn cần xét nghiệm đủ chỉ tiêu, nhất là ở vùng từng phát hiện asen.
Bao lâu nên xét nghiệm nước giếng một lần?
Không có hạn chung cho mọi gia đình. Nên xét khi mới khoan, khi nước đổi màu, mùi, vị, sau lũ, và định kỳ khi có điều kiện, nhất là nếu giếng dùng để uống. Vùng có nguy cơ asen nên hỏi cơ quan y tế về tần suất phù hợp.
Có cần xin phép khi khoan giếng cho gia đình không?
Với giếng dùng cho sinh hoạt hộ gia đình, quy định thường nhẹ hơn nhiều so với khai thác lớn, nhưng một số vùng bị hạn chế khai thác nước ngầm hoặc yêu cầu đăng ký. Nên hỏi UBND cấp xã trước khi khoan, vì quy định có thể khác nhau giữa các địa phương.
Nhà có cả nước máy và giếng khoan, nối chung đường ống được không?
Không nên nối thẳng hai nguồn vào cùng một đường ống, vì nước giếng có thể chảy ngược vào mạng nước máy chung, và rất khó biết vòi nào đang chảy nước gì. Nên tách hai hệ riêng: nước máy cho ăn uống, nước giếng cho tưới, rửa, hoặc có van chuyển đổi rõ ràng do thợ có nghề lắp.